FANDOM


Tumblr static dpuy6q13fxcgcocwws8wwwok8

Gil-galad hay Ereinion Gil-galad, con trai của Orodreth, là một Tiên thuộc tộc Ñoldor. Ông là Đức vua tối cao thứ sáu và cuối cùng của người Ñoldor ở Trung địa. Ông có nhiều biệt hiệu như Đại đế của các Tiên phương Tây, Vua của người Eldar, Vua của Lindon, Chúa tể của các Thượng tiên và Lãnh chúa Eriador.

Gil-galad là người quyền lực nhất trong Tiên tộc và được cả người ÑoldorSindar kính nể. Đó là lý do ông được xem như Đức vua tối cao của Tiên tộc ở Trung địa. Gil-galad và Elendil đã lập nên Liên minh cuối cùng của Tiên và Người, và ông lãnh đạo toàn thể Tiên tộc chiến đấu chống lại Sauron vào thời kỳ đó. Cái chết của ông đã đặt dấu chấm hết cho thời đại của những vương quốc của các Tiên Ñoldor tại Trung địa, mặc dù nhiều người Ñoldor vẫn còn ở lại Imladris vào Kỷ Đệ Tam.

Tiểu sử Edit

Kỷ Đệ Nhất Edit

Gil-galad được sinh ra vào khoảng thế kỷ thứ năm Kỷ Đệ Nhất. Ông và em gái Finduilas là con của Orodreth và một tiên nữ Sindar phương Bắc. Khi trận chiến Dagor Bragollach bắt đầu cuộc phản công của Morgoth diễn ra, ông vẫn còn là một đứa trẻ. Do đó cha ông đã gởi Gil-galad cùng mẹ đến lánh nạn tại cảng Falas của Círdan. Sau khi thành Minas Tirith thất thủ, con đường Sirion đã thuộc về quân đội của Morgoth tuy nhiên chúng vẫn bị cầm chân bởi các vương quốc HithlumNargothrond hùng mạnh. Sau Trận chiến Muôn vàn nước mắt, Hithlum sụp đổ do đó không còn thế lực nào có thể cản bước quân thù. Chúng cũng thừa thế bao vây và đánh chiếm cảng Falas. Círdan, Gil-galad cùng nhiều Tiên khác phải lên thuyền rút chạy về đảo Balar. Họ cũng thành lập một cảng nhỏ tại cửa sông Sirion. Trong trận chiến Muôn vàn nước mắt, Đức vua Fingon hy sinh, quyền thừa kế thuộc về em trai ông là Turgon. Khi thành Gondolin sụp đổ, Gil-galad tiếp nhận vương vị và trở thành Đức vua tối cao của người Ñoldor. Tuy nhiên ông cùng Círdan vẫn nương náo tại đảo Balar và cảng Sirion cho đến thời điểm diễn ra Trận chiến Thịnh nộ đánh dấu sự kết thúc của Kỷ Đệ Nhất.

Kỷ Đệ Nhị Edit

Sau khi Beleriand bị phá hủy trong Trận chiến Thịnh nộ, Gil-galad thành lập vương quốc Lindon ở xa về phía Tây Bắc của Trung địa, nằm giữa dãy núi Lam và Biển Lớn quanh Vịnh Lhûn và sau đó các thành phố cảng Forlond, HarlondMithlond cũng được xây nên. Nhiều Tiên gồm cả người Ñoldor và Sindar đã tụ họp về dưới trướng của ông. Vào thời kỳ đỉnh cao của vương quốc, lãnh thổ của nó trải dài đến tận dãy núi Sương mù và bìa Tây của Rừng Xanh Vĩ Đại. Nhưng rồi lại xảy ra bất hòa giữa những người Ñoldor và nhiều người đã theo Celebrimbor rời Lindon lập nên vương quốc Eregion, mặt khác cũng do họ biết được mithril đã được phát hiện ở Khazad-dûm. Bên cạnh đó, một bộ phận dân Sindar và rất nhiều Tiên Nandor không muốn sống cùng người Ñoldor do tội ác họ từng gây ra và đã di cư về phương Đông đến Lothlórien hay Rừng Xanh.

Khi người của hoàng tử Númenor Aldarion đến Trung địa, họ thiết lập mối giao hảo với các Tiên. Vào năm 882 Kỷ Đệ Nhị, Gil-galad trao cho hoàng tử lá thư gởi cho phụ vương là Đức vua Númenor Tar-Meneldur. Ông cảnh báo nhà vua rằng bóng tối đang trỗi dậy ở phương Đông và cầu xin sự giúp đỡ. Khi Aldarion trở thành vua Tar-Aldarion của Númenor đã tặng cho Gil-galad những những hạt giống cây mallorn. Tuy nhiên chúng không mọc được ở vùng đất của ông nên Gil-galad đã tặng lại cho Galadriel trước khi bà rời Lindon. Bà gieo chúng ở Lindorinand và khi những cây mallorn mọc lên, mảnh đất này được gọi là Lothlórien nghĩa là xứ Lorien Hy Vọng.

Vào khoảng năm 1000 Kỷ Đệ Nhị, Sauron, dưới cái tên Annatar - “Thần Ban tặng” có ý định dụ dỗ tộc Tiên nhưng Gil-galad và Círdan không tin tưởng và khước từ hắn. Tuy nhiên Sauron lại được hoan nghênh ở vương quốc Eregion và thế là những chiếc Nhẫn quyền lực được tạo ra. Khoảng năm 1600 Sauron đúc chiếc Nhẫn Chủ. Đến năm 1695 hắn lộ rõ bộ mặt và tấn công vùng Eriador, bắt đầu cuộc chiến của tộc Tiên và Sauron. Celebrimbor cứu được Bộ Ba nhẫn và giao cho Gil-galad giữ Narya cùng Vilya trong khi Nenya được bảo vệ bởi Galadriel.

Sauron nhanh chóng chiếm được Eregion. Lực lượng Lindon dưới quyền Elrond được Gil-galad gửi đến cứu viện quá trễ và do quân số ít họ cũng phải rút về phía Bắc, nơi Elrond đã lập nên Imladris để cố thủ. Khi Sauron tung toàn lực tấn công Lindon hắn cũng cẩn thận để một đội quân mạnh phía sau để cầm chân Elrond.

Cuộc chiến diễn ra đến khi một hạm đội người Númenor cập bến Lindon. Với sức mạnh của quân liên minh, Sauron bị đẩy lùi và bại trận gần Sarnford và buộc phải rút lui về Tharbad để củng cố lực lượng. Nhưng chỉ huy của người Númenor là Tar-Minastir (lúc này vẫn chưa lên ngôi vua) đã đưa hạm đội xuôi dòng Gwathló đánh thọc sườn quân của Sauron và giành thắng lợi hoàn toàn. Sau cuộc chiến, tộc Tiên không còn bị mối nguy Sauron đe dọa suốt một thời gian dài. Trong thời gian này, Gil-galad đã giao hai chiếc nhẫn Narya và Vilya cho những người thân tín của mình là Círdan và Elrond.

Sau khi vương quốc Númenor sụp đổ, Elendil cùng các con đến Trung địa và thành lập vương quốc Gondor ở phương Nam và Arnor ở phía Bắc. Gondor bị tấn công bởi Sauron và Isildur con trai của Elendil phải chạy về phương Bắc. Sau đó Gil-galad đem quân giúp đỡ Elendil và cùng nhau họ lập nên Liên minh cuối cùng của Tiên và Người.

Mất vài năm để Liên minh xây dựng lực lượng nhưng rồi một khi sức mạnh đã đủ, họ hùng dũng hành quân đến Mordor và đánh bại kẻ thù trong trận chiến Dagorlad. Họ vượt qua đèo Cirith Gorgor và bao vây tháp Barad-dûr. Cuộc bao vây kéo dài bảy năm và đến những phút cuối Sauron buộc phải lộ diện. Bằng sức mạnh của mình, Chúa tể bóng tối phá được vòng vây và quân của hắn tiến về sườn Orodruin. Tại đó hắn mặt đối mặt với Elendil và Gil-galad. Sauron bị đánh bại nhưng cả Gil-galad và Elendil đều hy sinh trong trận chiến. Trong bức thư tịch mà Isildur để lại Minas Tirith trước khi khởi hành về phương Bắc, ông có viết rằng Gil-galad bị giết bởi sức nóng từ bàn tay của Sauron.

800px-Abe Papakhian - I Behold (colour)

Trận chiến Liên minh cuối cùng của Tiên và Người, tranh của Abe Papakhian

Thế là Gil-galad trở về Sảnh đường của thần Mandos mà không có vợ con, vì vậy dòng dõi những vị vua Ñoldor ở Trung địa cũng chấm dứt tại đây và Círdan trở thành lãnh chúa tiếp quản LindonCảng Xám.

Dịch tên Edit

Gil-galad là một từ trong tiếng Sindar có nghĩa là “Ánh sao rực rỡ”. Tên ông trong tiếng Quenya là Artanáro có nghĩa “Ngọn lửa mãnh liệt”. Trong tiếng Sindar, Artanáro dịch thành Rodnor.

Ban đầu, Ereinion bị nhầm lẫn thành tên khai sinh của ông thay vì danh hiệu. Nó có nghĩa là “Dòng dõi các vị vua”.

Trong các phiên bản khác của Legendarium Edit

Về nguồn gốc của Gil-galad có nhiều dị bản:

  • ŸÔng có một thời gian ngắn bị nhầm là dòng dõi của Fëanor.
  • ŸTrong Huyền sử SilmarillionUnfinished Tales, ông là con của Fingon
  • ŸMột vài ghi chú trong History of Middle-earth nói rằng ông là con của Finrod Felagund. Trong đó cũng nói rằng Felagund đưa vợ con lánh đến Falas. Trong phiên bản này cũng nói Galadriel là con gái của Felagund và là chị của Gil-galad. Tuy nhiên sau đó tác giả Tolkien sau đó quyết định rằng Felagund không kết hôn và không có con.
  • ŸTrong một phiên bản khác, Angrod có một đứa con là Artaresto (sau gọi là Orodreth) được Finrod phong làm quốc quản và sau đó tiếp quản Nargothrond. Vợ ông là một Tiên nữ Sindar phương Bắc, và họ có hai người con là Finduilas và Gil-galad.
  • ŸCuối cùng, cái tên Artaresto được thay bằng Arothir (Orodreth). Ông là cháu trai của Finrod và là cha của Gil-galad. Finduilas vẫn là con gái của Orodreth và là em gái của Gil-galad.
  • ŸMột ghi chú bên lề của tác giả Tolkien trong giai đoạn này (cuối thập niên 50) nói rằng Gil-galad có thể là con của Fingon. Chi tiết này được ghi nhận bởi các con của Tolkien và trong ấn bản Huyền sử Silmarillion, Christopher Tolkien khẳng định Gil-galad là con của Fingon. Sau trận chiến Ngọn lửa bất ngờ, sau cái chết của Fingolfin, Fingon trở thành Đức vua tối cao của người Noldor và ông đã gởi Gil-galad lúc đó còn nhỏ đến Cảng Falas cho Círdan. Ý tưởng Gil-galad được gởi đến thành phố cảng được trích từ những ghi chép mà cụ Tolkien đã viết vào lúc ông cho Gil-galad là con của Finrod.
  • ŸSau trận chiến Muôn vàn nước mắt, vương vị thuộc về em trai của Fingon là Turgon. Morgoth tấn công Falathrim và Cirdan cùng Gil-galad thoát được về đảo Balar. Khi tin tức về cái chết của vua Turgon và sự sụp đổ của thành Gondolin bay đến đảo, Gil-galad đã trở thành Đức vua. Trong chương “Aldarion và Erendis” của Unfinished Tales, tên của Gil-galad cũng được Tolkien con thay đổi để phù hợp với các chi tiết trong Huyền sử Silmarillion. Sau đó Christopher Tolkien đã thừa nhận trong The Peoples of Middle-earth rằng chi tiết Gil-galad là con của Fingon là lỗi biên tập của ông và không đúng ý của cố tác giả. Ông cũng nói rằng tốt nhất cứ để thân thế của Gil-galad không rõ ràng như vậy.

Trên phim Edit

The Lord of the Rings - The Fellowship of the Ring - Elves in the Last Alliance

Elrond và Gil-galad trong The Fellowship of the Ring

2001: The Lord of the Rings: The Fellowship of the Ring:

Trong đoạn mở đầu, Gil-galad là một trong ba vị tiên mang Bộ Ba nhẫn. Sau đó là cảnh ông cầm cây giáo Aeglos chiến đấu trong trận chiến Liên minh cuối cùng của Tiên và Người. Tuy nhiên phân cảnh về cái chết của ông bị cắt. Vai Gil-galad được thể hiện bởi diễn viên Mark Ferguson.

Thông tin bài viết Edit

Dịch từ The Lord of the Rings wikia và Tolkien Gateway

Ad blocker interference detected!


Wikia is a free-to-use site that makes money from advertising. We have a modified experience for viewers using ad blockers

Wikia is not accessible if you’ve made further modifications. Remove the custom ad blocker rule(s) and the page will load as expected.